Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu không chỉ là tổ chức lại không gian phát triển theo chức năng, lợi thế từng địa phương mà còn tăng cường liên kết vùng, phân bổ hiệu quả nguồn lực, hình thành các cực tăng trưởng, qua đó, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu không chỉ là tổ chức lại không gian phát triển theo chức năng, lợi thế từng địa phương mà còn tăng cường liên kết vùng, phân bổ hiệu quả nguồn lực, hình thành các cực tăng trưởng, qua đó, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của định hướng chiến lược này, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương. Phải chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới”.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ: Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIV thay thế các Nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII thể hiện tư duy mới, tầm nhìn mới về tổ chức lại không gian phát triển quốc gia và phát triển 6 vùng kinh tế - xã hội nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và hướng tới 2 mục tiêu kép 100 năm của Đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Thay vì tổ chức các hoạt động phát triển chủ yếu trong phạm vi địa giới hành chính, Nghị quyết đặt ra yêu cầu hình thành không gian kinh tế mở, dựa trên chức năng, tiềm năng, lợi thế và khả năng liên kết giữa các địa phương.
Nghị quyết xác định: “Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới”.
Đây là định hướng có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đặc biệt sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính. Việc mở rộng quy mô nhiều tỉnh, thành phố tạo điều kiện tích hợp các không gian đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế biển, cửa khẩu và logistics. Tuy nhiên, để những lợi thế này trở thành động lực tăng trưởng, yêu cầu đặt ra là phải thay đổi phương thức quy hoạch, đầu tư và tổ chức các hoạt động kinh tế.
Một trong những tồn tại lâu nay là liên kết vùng dù được đề cập nhiều nhưng thực tế vẫn chủ yếu triển khai theo địa giới hành chính. Mỗi địa phương tự xây dựng quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuẩn bị nguồn lực và thu hút đầu tư.
TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
Thực tế, sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội, nhận thức về vai trò phát triển vùng từng bước được nâng cao, liên kết vùng được tăng cường. Tuy nhiên, quy hoạch vẫn còn chồng lấn, thiếu đồng bộ; kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu; các hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm. Một số cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt, trong khi hiệu quả liên kết giữa các địa phương còn hạn chế.
Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, một trong những tồn tại lâu nay là liên kết vùng dù được đề cập nhiều nhưng thực tế vẫn chủ yếu triển khai theo địa giới hành chính. Mỗi địa phương tự xây dựng quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuẩn bị nguồn lực và thu hút đầu tư. Thậm chí, nhiều địa phương cùng theo đuổi những mục tiêu và ngành nghề tương tự, dù điều kiện và lợi thế phát triển khác nhau.
Cách tiếp cận này dễ dẫn đến đầu tư phân tán, trùng lặp, cạnh tranh thu hút nguồn lực, trong khi khả năng kết nối và bổ trợ giữa các địa phương chưa được khai thác hiệu quả.





Điểm mới của Nghị quyết 27-NQ/TW, theo TS. Huỳnh Thanh Điền, là chuyển từ phát triển riêng lẻ từng địa phương sang xem toàn vùng như một hệ sinh thái thống nhất. Trong đó, mỗi địa phương được xác định vai trò theo chức năng, tiềm năng và lợi thế, đồng thời liên kết thông qua chuỗi giá trị,hạ tầng, lao động, dữ liệu và các hành lang kinh tế.
Nhìn từ góc độ địa phương, câu chuyện hợp nhất và mở rộng không gian đang đặt ra những bài toán thực tiễn sinh động. Tại Cần Thơ, sau hợp nhất, Cần Thơ cần đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy vai trò doanh nghiệp đầu tàu, huy động vốn và kết nối hạ tầng để trở thành đầu mối điều phối kinh tế vùng.
Việc hợp nhất mở ra cho Cần Thơ một không gian phát triển mới với cấu trúc kinh tế tích hợp gồm đô thị, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế biển, cảng biển và logistics. Không gian lớn hơn không chỉ tạo thêm dư địa phát triển mà còn đặt ra yêu cầu thay đổi tư duy tổ chức phát triển, từ khai thác lợi thế từng địa bàn sang tổ chức các nguồn lực trong một không gian kinh tế thống nhất.
Theo các chuyên gia, vấn đề cốt lõi của Cần Thơ hiện nay không chỉ là có thêm nguồn lực, mà phải hình thành một mô hình tăng trưởng tương xứng với không gian phát triển mới. Trong đó, cơ chế đặc thù cần được nhìn nhận như công cụ để tái cấu trúc nguồn lực, hình thành động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực điều phối vùng.
Theo ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ cần một cơ chế mang tính bước ngoặt để hình thành các doanh nghiệp “đầu tàu”, trước hết thông qua chính sách ưu đãi đủ mạnh nhằm thu hút các tập đoàn kinh tế lớn vào những dự án trọng điểm.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Phương Lam, thu hút doanh nghiệp lớn phải gắn với tái cơ cấu và phát huy hiệu quả “vốn mồi” của Quỹ Đầu tư phát triển thành phố, qua đó tạo nguồn lực ban đầu để kích hoạt dự án, đầu tư hạ tầng khung và thu hút thêm nguồn vốn xã hội. Một vấn đề đáng lưu ý khác là vai trò lan tỏa của các cực tăng trưởng.
Ở góc nhìn doanh nghiệp, theo ông Nguyễn Hồng Chung, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp, Nghị quyết 27-NQ/TW đánh dấu bước ngoặt chiến lược trong việc định hình không gian phát triển quốc gia, mở ra cơ hội bứt phá đột phá cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Quy hoạch vùng rõ ràng cùng việc đẩy mạnh hạ tầng kết nối xuyên vùng giúp tối ưu hóa chi phí logistics, gia tăng sức hút dòng vốn FDI chất lượng cao. Doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quỹ đất chiến lược, hình thành các cụm liên kết ngành hiện đại và nâng cao giá trị gia tăng dịch vụ.

Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh: “Bộ Chính trị chỉ đạo tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội của vùng theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới …”.
Nếu tổ chức lại không gian phát triển là điều kiện cần thì hình thành các chuỗi giá trị vùng, xây dựng cơ chế điều phối hiệu quả và khai thác nguồn lực khoa học, công nghệ chính là những yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa lợi thế thành sức cạnh tranh.
Nghị quyết 27-NQ/TW xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá; đồng thời, yêu cầu bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; khắc phục tình trạng liên kết hình thức, cục bộ địa phương, hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.

Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, liên kết vùng trước hết phải được thiết kế từ tư duy hoạch định chính sách và giao mục tiêu của Trung ương. Các chủ trương, quy hoạch, chương trình đầu tư và chỉ tiêu phát triển cần được xem xét trên tổng thể vùng, sau đó mới phân bổ thành nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương.
Nếu mục tiêu và nguồn lực tiếp tục được giao riêng lẻ theo từng tỉnh, thành phố, sẽ khó khắc phục tình trạng cạnh tranh lẫn nhau, nhất là trong thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng.

Từ mục tiêu chung, cần xác định rõ chức năng, lợi thế và trách nhiệm từng địa phương, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển vùng. Đối với các dự án liên vùng, phải có đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt từ chuẩn bị, huy động vốn đến triển khai và vận hành.
Đặc biệt, nguyên tắc các địa phương “cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi” cần được cụ thể hóa bằng cơ chế tài chính minh bạch, xác định rõ mức đóng góp, phân chia nguồn thu, chi phí vận hành và trách nhiệm xử lý rủi ro.
TS. Huỳnh Thanh Điền cũng cho rằng, Hội đồng điều phối vùng muốn hoạt động thực chất phải có thực quyền, bộ phận chuyên trách, nguồn lực và hệ thống dữ liệu dùng chung; được tham gia lựa chọn dự án ưu tiên, điều phối nguồn lực, giám sát tiến độ và xử lý vướng mắc.
Hạ tầng giao thông chỉ có thể phát huy đầy đủ hiệu quả khi đi cùng sự phối hợp giữa các địa phương và hợp tác thực chất giữa cộng đồng doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Thành phố Hà Nội
Nhìn vào bức tranh kết nối liên vùng hiện nay, sự chuyển động của các đô thị lớn đang chứng minh rõ tinh thần này. Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, ông Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Thành phố Hà Nội cho rằng, Hà Nội cần phát huy vai trò trung tâm, kết nối và lan tỏa, cùng các địa phương hình thành những hành lang đô thị, công nghiệp và dịch vụ. Trong đó, việc phát triển các tuyến cao tốc kết nối liên vùng, đường Vành đai 4 và Vành đai 5 vùng Thủ đô được kỳ vọng mở rộng thị trường, nâng cao khả năng kết nối sản xuất, lưu thông hàng hóa và tạo thêm cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hạ tầng giao thông chỉ có thể phát huy đầy đủ hiệu quả khi đi cùng sự phối hợp giữa các địa phương và hợp tác thực chất giữa cộng đồng doanh nghiệp.
“Mỗi địa phương cần phát huy lợi thế riêng và bổ trợ lẫn nhau. Các doanh nghiệp cần tăng cường liên kết nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết giảm chi phí và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Quá trình này cũng mở ra cơ hội để doanh nghiệp nhỏ và vừa mở rộng quy mô, tiếp cận công nghệ và thị trường mới”, ông Nguyễn Xuân Lưu nhấn mạnh.
Một nguồn lực quan trọng khác trong tổ chức không gian phát triển vùng là khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Hiệu trưởng Trường Luật và Khoa học chính trị, Trường Đại học Ngoại thương, cho rằng hiện nay hoạt động đổi mới sáng tạo tại nhiều địa phương vẫn được tổ chức trong phạm vi riêng, việc kết nối với các tỉnh lân cận, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp ngoài địa bàn còn hạn chế.
Theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà, cần tổ chức các trung tâm đổi mới sáng tạo vùng theo cơ chế linh hoạt; trong đó Nhà nước đầu tư những điều kiện nền tảng, đồng thời phát huy vai trò doanh nghiệp trong quản trị và khai thác…
Giải pháp thúc đẩy phát triển và liên kết vùng theo ông Nguyễn Hồng Chung, đó là hoàn thiện cơ chế điều phối vùng, ban hành chính sách ưu đãi cho các dự án hạ tầng kết nối liên vùng và khu công nghiệp sinh thái/chuyên sâu. Đồng thời thực hiện đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP) cho các trục giao thông huyết mạch, cảng biển và năng lượng xanh; xây dựng mạng lưới kết nối cung - cầu lao động và đào tạo nhân lực trình độ cao theo định hướng lợi thế cạnh tranh riêng của từng vùng…
Phá vỡ rào cản địa giới hành chính để tư duy theo không gian phát triển mở chính là bước chuyển nền tảng. Khi các cực tăng trưởng được kết nối đồng bộ và tối ưu hóa theo chuỗi giá trị, sức mạnh liên kết vùng sẽ trở thành động lực then chốt nâng tầm sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế quốc gia.../.