Sản phẩm báo chí chất lượng cao của Bnews, đơn vị tiên phong, sáng tạo trong hành trình Chuyển đổi số.
Emagazine
Quy định 224-QĐ/TW: Khơi thông nguồn lực phát triển
Quốc Huy - Nguyễn Huyền - Thanh Hương/Bnews/vnanet.vn•21/10/2026 14:02
Quy định 224-QĐ/TW: Khơi thông nguồn lực phát triển
Từ những quyết sách lịch sử của 40 năm Đổi mới đến bước ngoặt tại Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, tư duy của Đảng về đảng viên làm kinh tế đã đi qua một hành trình bứt phá. Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh (Quy định số 224-QĐ/TW) được Trung ương ban hành ngày 14/10 đã chuyển từ "cho phép" đến "khuyến khích, tạo điều kiện". Quy định mới nhằm tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực phát triển đất nước.
Phóng viên TTXVN thực hiện chùm bài bình luận "Quy định 224-QĐ/TW: Khơi thông nguồn lực phát triển", khẳng định vai trò, ý nghĩa của chủ trương mới trong việc giải phóng sức sản xuất, khơi thông nguồn lực cho phát triển; đập tan những luận điệu xuyên tạc, quy chụp vô căn cứ cho rằng đảng viên làm kinh tế là "suy thoái", là "phai nhạt lý tưởng"; đồng thời đưa ra lời giải hữu hiệu nhằm kiểm soát xung đột lợi ích, giữ vững kỷ cương và tính liêm chính của Đảng.
Quyết định chuyển từ "cho phép" sang "khuyến khích" đảng viên làm kinh tế tại Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là bước tiến mới. Quyền hạn rõ ràng, giới hạn nghiêm minh và tinh thần thượng tôn pháp luật chính là lời giải trọn vẹn cho bài toán: Vừa giải phóng nguồn lực quốc gia, vừa giữ vững liêm chính và bản chất của Đảng. Đây là hướng đi tất yếu để khuyến khích làm giàu chính đáng, nâng cao trách nhiệm nêu gương và tạo động lực bứt phá cho đất nước.
Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (ngày 8/10/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Đảng viên làm kinh tế phải nêu gương chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; tạo điều kiện để họ tiến bộ, hưởng thành quả tương xứng với đóng góp, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố sự gắn bó của Nhân dân, người lao động với Đảng".
Thông điệp ấy chính là thể hiện cho quyết sách quan trọng vừa được Trung ương thông qua, Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh. Quy định số 224-QĐ/TW chính thức thay thế Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006. Chuyển từ trạng thái "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" để đảng viên làm kinh tế không đơn thuần là sự thay đổi về thuật ngữ văn bản. Đó là một bước tiến đột phá trong tư duy huy động nguồn lực xã hội, tư duy lãnh đạo kinh tế của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Phương Hoa - TTXVN
“
Đảng viên làm kinh tế phải nêu gương chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; tạo điều kiện để họ tiến bộ, hưởng thành quả tương xứng với đóng góp, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố sự gắn bó của Nhân dân, người lao động với Đảng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Sự phát triển tư duy ấy diễn ra liên tục và nhất quán trong suốt thời gian qua. Lịch sử 40 năm Đổi mới là cơ sở thực tiễn sinh động nhất để soi chiếu sự chuyển biến của tư duy. Nhìn lại Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", Đảng đã khởi xướng công cuộc Đổi mới, từng bước khắc phục cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Từ thực tiễn đời sống, Đảng từng bước khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận vai trò của các chủ thể sản xuất, kinh doanh ngoài khu vực nhà nước và tạo điều kiện để người dân phát huy năng lực làm giàu chính đáng. Đây không phải sự thay đổi mục tiêu phát triển, mà là quá trình điều chỉnh phương thức tổ chức kinh tế trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhận diện đúng các nguồn lực và tìm kiếm động lực tăng trưởng phù hợp.
Năm 2002, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX xác định kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài. Đến Đại hội Đảng lần thứ X năm 2006, chủ trương cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân được đặt ra, sau đó được cụ thể hóa bằng Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006. Từ bước đi này, hoạt động kinh tế tư nhân của đảng viên được nhìn nhận trong mối quan hệ với yêu cầu phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và công tác xây dựng Đảng.
Đặc biệt, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII xác định: "Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta". Nghị quyết không chỉ khẳng định vai trò của khu vực này mà còn đặt ra yêu cầu xóa bỏ rào cản, định kiến, tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh; đồng thời kiên quyết ngăn chặn chủ nghĩa tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, thao túng chính sách và cạnh tranh không lành mạnh.
Đến Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, tư duy ấy tiếp tục được phát triển. Nghị quyết xác định kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia", nhấn mạnh yêu cầu khuyến khích tinh thần kinh doanh, đổi mới sáng tạo, làm giàu hợp pháp, chính đáng, đồng thời xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh và trách nhiệm xã hội.
Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chiều 8/10/2026. Ảnh: Phương Hoa - TTXVNCác đại biểu tham dự phiên Bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Thống Nhất – TTXVNCác đại biểu tham dự phiên Bế mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN
Nhìn lại tiến trình này, có thể thấy một mạch tư duy nhất quán: giải phóng sức sản xuất, huy động nguồn lực trong nhân dân, phát triển kinh tế nhiều thành phần, bảo đảm quyền kinh doanh hợp pháp và tăng cường quản lý bằng pháp luật. Việc chuyển từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" đối với đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh là bước phát triển tiếp theo của quá trình đó, phù hợp với yêu cầu đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Trong bối cảnh Việt Nam cần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp có sức cạnh tranh và huy động thêm nguồn lực cho tăng trưởng, không thể không tính đến vai trò, sự đóng góp của những đảng viên có tri thức, kinh nghiệm quản lý và khát vọng kinh doanh. Nếu một đảng viên có đủ điều kiện, năng lực và trách nhiệm để tham gia tạo giá trị cho xã hội, việc phát huy nguồn lực ấy chính là một cách thiết thực đóng góp cho đất nước.
Cũng cần khẳng định rằng khuyến khích đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh là tạo cơ hội phát huy sự đóng góp của mỗi đảng viên. Mỗi đảng viên có năng lực, điều kiện và nhiệm vụ khác nhau; việc tham gia đầu tư, kinh doanh phải phù hợp với quy định, hoàn cảnh và khả năng của từng cá nhân. Đây không phải tiêu chí thay thế cho phẩm chất chính trị hay kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đảng viên, mà là một không gian để những người có đủ điều kiện phát huy năng lực và đóng góp cho xã hội.
Chủ trương mở rộng không gian cho đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh xuất phát từ chính trong thực tiễn đã có những tấm gương vô cùng thuyết phục. Ở cấp độ doanh nghiệp, nhiều năm qua đã ghi nhận hàng loạt doanh nhân là đảng viên tiêu biểu, dẫn dắt các tập đoàn kinh tế tư nhân vươn ra thế giới. Họ không chỉ tạo ra hàng trăm nghìn việc làm, đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước, mà còn tiên phong trong thực hiện trách nhiệm xã hội, phát triển cho hạ tầng, y tế, giáo dục. Hay ở cấp độ địa phương, đã xuất hiện nhiều đảng viên làm kinh tế giỏi trở thành "ngọn hải đăng" cho bà con làm theo. Hay hàng nghìn mô hình trang trại, hợp tác xã do các Bí thư Chi bộ, Bộ đội xuất ngũ là đảng viên làm chủ... đã mang lại hiệu quả trong sản xuất thực tế.
Trong bài toán phát triển đất nước, nguồn lực không chỉ nằm ở vốn hay tài sản, mà còn ở niềm tin, tinh thần dấn thân và khát vọng tạo ra giá trị. Khi đảng viên tham gia phát triển kinh tế bằng sự liêm chính, trách nhiệm và tinh thần phụng sự, họ có thể góp phần củng cố niềm tin ấy bằng hành động cụ thể.
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Tạ Toàn – TTXVN
Chuyển từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" vì thế không đơn thuần là thay đổi cách diễn đạt. Đó là bước phát triển trong cách nhìn về năng lực đóng góp của đảng viên và trách nhiệm của tổ chức đảng trong việc vừa mở đường cho phát triển, vừa giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Khuyến khích làm giàu chính đáng không phải để tôn vinh sự giàu có như mục đích tự thân, mà để phát huy lao động, sáng tạo và năng lực tổ chức sản xuất vì lợi ích hợp pháp của cá nhân, doanh nghiệp và xã hội.
Thước đo thành công cuối cùng của chủ trương là những người làm kinh tế chân chính có thêm điều kiện phát triển, môi trường kinh doanh minh bạch hơn, các hành vi lợi dụng quyền lực bị ngăn chặn hiệu quả và niềm tin của nhân dân được củng cố bằng kết quả thực tế. Khơi thông nguồn lực nhưng không buông lỏng nguyên tắc; khuyến khích làm giàu chính đáng nhưng kiên quyết chống trục lợi; phát huy vai trò tiên phong của đảng viên bằng hiệu quả công việc, sự liêm chính và trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, đó chính là yêu cầu để đổi mới tư duy trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Việc chuyển từ tư duy quản lý từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" cho đảng viên làm kinh tế thể hiện ở Quy định số 224-QĐ/TW đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư duy phát triển. Không chỉ giải phóng các nguồn lực tiềm ẩn, chủ trương này còn mở ra không gian kinh tế mới. Thế nhưng, có lập luận sai lệch, phiến diện cho rằng việc "khuyến khích, tạo điều kiện cho đảng viên làm kinh tế và làm giàu" sẽ làm phai nhạt bản chất của Đảng và tạo kẽ hở cho tư lợi, tham nhũng.
Có thể thấy, dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn, quan điểm này cho thấy sự sai lệch và phiến diện. PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp, Phó Trưởng khoa Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, cần phân biệt rõ giữa làm giàu chính đáng với làm giàu bất chính, giữa lợi ích kinh tế hợp pháp với hành vi lợi dụng quyền lực để trục lợi. Định kiến sai lệch cho rằng khuyến khích đảng viên làm kinh tế tất yếu làm phai nhạt bản chất của Đảng và dẫn đến tham nhũng là sự suy diễn thiếu cơ sở. Tuy nhiên, những nguy cơ xung đột lợi ích là có thật và cần được nhận diện, kiểm soát nghiêm túc.
Trước hết, suy diễn cho rằng "khuyến khích đảng viên làm kinh tế và làm giàu" sẽ làm phai nhạt bản chất của Đảng và tạo kẽ hở cho tư lợi, tham nhũng, đã đánh đồng hoạt động kinh tế hợp pháp với hành vi trục lợi, tham nhũng. Sản xuất, kinh doanh là quá trình tổ chức các nguồn lực để tạo ra sản phẩm, dịch vụ, việc làm và giá trị gia tăng. Lợi nhuận hợp pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong khi đó, tham nhũng là hành vi lợi dụng quyền lực, vị trí hoặc những lợi thế trong công tác để thu lợi bất chính. Vì vậy, không thể căn cứ vào việc đảng viên kinh doanh hoặc có thu nhập cao để kết luận họ suy thoái hay tham nhũng. Điều cần xem xét là nguồn gốc tài sản, phương thức làm giàu, tính hợp pháp và việc thực hiện trách nhiệm của đảng viên. Không thể đánh đồng một đảng viên kinh doanh giỏi, làm giàu hợp pháp với hành vi suy thoái hay tham nhũng.
“
Điều cần xem xét là nguồn gốc tài sản, phương thức làm giàu, tính hợp pháp và việc thực hiện trách nhiệm của đảng viên. Không thể đánh đồng một đảng viên kinh doanh giỏi, làm giàu hợp pháp với hành vi suy thoái hay tham nhũng.
Hơn thế, lập luận này chưa đặt vấn đề trong mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và phương thức kinh doanh là đặc điểm khách quan của thời kỳ quá độ. Khuyến khích các đảng viên – lực lượng tiên phong trong xã hội phát huy trí tuệ, năng lực tổ chức sản xuất và tinh thần sáng tạo phù hợp yêu cầu giải phóng lực lượng sản xuất.
Sự phát triển tư duy này là một quá trình liên tục và nhất quán của Đảng ta qua nhiều kỳ Đại hội. Tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất cao quan điểm cần đổi mới mạnh mẽ tư duy về đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh, từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" để đảng viên làm giàu chính đáng, đóng góp cho đất nước.
Việc đảng viên kinh doanh hợp pháp không tự nó mâu thuẫn với mục tiêu phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vấn đề quyết định là hoạt động đó có tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền lợi người lao động và đóng góp cho xã hội hay không.
Luận điệu "khuyến khích, tạo điều kiện cho đảng viên làm kinh tế và làm giàu" sẽ làm phai nhạt bản chất của Đảng là sự đánh đồng phi lý giữa bản chất chính trị của Đảng với hoàn cảnh kinh tế và tài sản cá nhân của từng đảng viên. Bản chất, mục tiêu và vai trò của một chính đảng phải được xem xét từ nền tảng tư tưởng, mục tiêu chính trị, đường lối, nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động và quan hệ của chính đảng đó với lợi ích của nhân dân. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, việc giữ vững bản chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng và trách nhiệm phục vụ nhân dân không đồng nghĩa với việc đảng viên phải đứng ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc không được tạo lập tài sản hợp pháp.
Từ những vùng sản xuất manh mún, nhiều hợp tác xã, hộ nông dân ở Ninh Bình đang từng bước tham gia các chuỗi liên kết với doanh nghiệp và các đơn vị tiêu thụ. Ảnh minh họa: Nguyễn Chinh - TTXVN
Khi đảng viên làm kinh tế giỏi, tạo nhiều việc làm, chấp hành nghiêm chính sách thuế và tích cực tham gia an sinh xã hội chính là đang hiện thực hóa tinh thần "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau" trên mặt trận kinh tế. Điều cần quan tâm không phải là đảng viên có làm kinh tế hay không, mà là họ làm kinh tế bằng phương thức nào, có tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước hay không, có sử dụng địa vị chính trị để mưu cầu lợi ích riêng hay không.
Điều đáng nói nữa là cần nhìn nhận chủ trương trong yêu cầu từ thực tiễn đổi mới tư duy kinh tế và phát huy nguồn lực xã hội. Vốn, tri thức, năng lực quản trị và khát vọng cống hiến là những nguồn lực vàng cho tăng trưởng kinh tế. Khi được khơi thông một cách công khai, minh bạch, nguồn lực từ đội ngũ đảng viên sẽ tạo ra cú huých mạnh mẽ cho phát triển kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đội ngũ đảng viên là đội ngũ tập trung hàm lượng cao về học vấn, tri thức quản lý, lý luận chính trị và uy tín xã hội. Việc cởi trói tư duy từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" sẽ giải phóng một nguồn lực xã hội to lớn.
Tại khu vực nông thôn và miền núi, mô hình đảng viên làm chủ trang trại, giám đốc hợp tác xã kiểu mới chính là "đầu tàu" dẫn dắt kinh tế hộ gia đình phát triển. Họ không chỉ làm giàu chính đáng cho gia đình mà còn tạo việc làm, giúp các hộ gia đình khác thoát nghèo bền vững. Hay tại khu vực doanh nghiệp tư nhân, nhiều đảng viên là các chuyên gia, kỹ sư, doanh nhân đứng ra thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế, các ngành kinh tế mới…, đóng góp quan trọng vào thu ngân sách địa phương và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Không phải mọi hoạt động kinh doanh đều mặc nhiên mang lại hiệu quả tích cực nếu nó đi ngược lại lợi ích chung của xã hội, có sự tư lợi, hoặc tạo "sân sau" trục lợi khi cơ chế kiểm soát chưa đủ kín kẽ. Quan trọng hơn, kết quả phải được đánh giá bằng đóng góp thực chất, việc tuân thủ pháp luật và trách nhiệm đối với cộng đồng.
Lập luận cho rằng mở rộng quyền làm kinh tế tất yếu dẫn đến tham nhũng là sự nhầm lẫn, đánh đồng giữa nguy cơ và hệ quả không thể tránh khỏi. Tham nhũng chủ yếu gắn với những điều kiện như quyền lực thiếu kiểm soát, phân bổ nguồn lực thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình hạn chế. Nhận diện rõ điều này, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã quán triệt sâu sắc nguyên tắc: Khuyến khích làm giàu chính đáng phải đi đôi với cơ chế kiểm soát quyền lực. Trung ương nhấn mạnh: phải gắn tính tiên phong trong phát triển kinh tế với giữ vững bản chất của Đảng…; không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng… Giải pháp căn bản chính là minh bạch tài sản, nhận diện chủ thể hưởng lợi, kiểm soát chủ thể thực sự chi phối, hưởng lợi; kiểm soát xung đột lợi ích và xử lý nghiêm việc lợi dụng quyền lực, thông tin, tài sản công để trục lợi…
Tóm lại, khuyến khích, tạo điều kiện cho đảng viên làm kinh tế thể hiện bước tiến lớn trong tư duy phát triển, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan. Quan điểm cho rằng chủ trương này làm phai nhạt bản chất của Đảng chỉ là sự suy diễn chủ quan, thiếu cơ sở khoa học và xa rời thực tiễn. Tuy nhiên, để chủ trương này không bị biến tướng, việc nâng đỡ tinh thần kinh doanh phải luôn song hành với siết chặt kỷ cương pháp luật. Đẩy mạnh khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng gắn liền với cơ chế kiểm soát quyền lực minh bạch, hiệu quả chính là chìa khóa quan trọng để chúng ta khai phá nguồn lực, phát triển kinh tế mạnh mẽ đồng thời giữ vững bản chất cách mạng của Đảng.
Mở rộng không gian làm giàu chính đáng cho đảng viên đòi hỏi một hành lang kiểm soát quyền lực nghiêm ngặt hơn bao giờ hết. Thiết lập "hàng lang" thể chế minh bạch chính là chìa khóa để vừa giải phóng tối đa nguồn lực xã hội, vừa ngăn ngừa xung đột lợi ích và giữ vững kỷ cương.
Nhận diện và ngăn ngừa xung đột lợi ích
Tinh thần này đã được thể hiện rõ khi Trung ương yêu cầu quyền, điều kiện và giới hạn tham gia đầu tư, kinh doanh phải phù hợp với địa vị pháp lý, chức trách và mức độ rủi ro xung đột lợi ích.
Đây chính là điểm mấu chốt của quá trình tổ chức thực hiện bởi ranh giới giữa quyền làm giàu chính đáng và nguy cơ lợi dụng vị trí công vụ có thể rất mong manh nếu thiếu một cơ chế kiểm soát rõ ràng. Trong phát biểu bế mạc tại Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nêu rõ: "Quyền, điều kiện, giới hạn tham gia phải phù hợp địa vị pháp lý, chức trách, mức độ rủi ro xung đột lợi ích. Kiểm soát phải căn cứ quyền sở hữu, quyền chi phối, lợi ích thực tế, không chỉ người đứng tên; bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp, không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng. Xung đột lợi ích phải được báo cáo, xử lý đúng thẩm quyền, không dừng ở kê khai".
Vì vậy, vấn đề cốt lõi không chỉ là cho phép hay khuyến khích, mà là thiết kế cơ chế kiểm soát để bảo đảm chủ trương được thực hiện đúng mục tiêu. Với đảng viên hoạt động trong khu vực tư nhân, quyền đầu tư, kinh doanh hợp pháp cần được bảo đảm và khuyến khích. Nhưng với những đảng viên đang nắm giữ công quyền, trực tiếp tham gia hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực, cấp phép, thanh tra, kiểm tra hoặc tiếp cận thông tin chưa công khai, yêu cầu phòng ngừa xung đột lợi ích phải cao hơn nhiều.
Theo Tiến sĩ Hồ Sỹ Ngọc, Giảng viên cao cấp Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, sự vận động của các quan hệ kinh tế luôn tiềm ẩn nguy cơ chệch hướng nếu thiếu sự điều tiết, đặc biệt đối với bộ phận đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức - những chủ thể trực tiếp nắm giữ công quyền.
Tiến sĩ Hồ Sỹ Ngọc, Giảng viên cao cấp Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tiến sĩ Hồ Sỹ Ngọc chỉ rõ hai vấn đề cốt lõi: Thứ nhất, rủi ro chuyển hóa "quyền lực chính trị" thành "địa vị kinh tế" (tư bản thân hữu). Thực chất, công quyền mang tính chất "hàng hóa đặc biệt", tuyệt đối không được phép trao đổi trên thị trường. Nếu không kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ cán bộ, công chức, viên chức sử dụng ưu thế thông tin bất cân xứng và quyền hạn hành chính để tạo đặc quyền kinh doanh "sân sau" sẽ làm suy biến bản chất công vụ, biến tài sản công thành tài sản tư và xói mòn tính liêm chính.
Thứ hai, cần phân định rõ địa vị pháp lý và công năng kinh tế: Đảng viên ở khu vực tư là "chiến sĩ kinh tế", được khuyến khích tối đa hóa hiệu quả sản xuất, kinh doanh hợp pháp. Trong khi đó, đảng viên ở khu vực công (cán bộ, công chức, viên chức) mang sứ mệnh tối thượng là phục vụ lợi ích công cộng. Do đó, việc khuyến khích làm giàu đối với nhóm này phải gắn liền với năng suất lao động, sáng kiến chuyên môn, trí tuệ và sự gia tăng thu nhập minh bạch, tuyệt đối cấm hành vi trục lợi từ chức vụ.
Từ kinh nghiệm thực tiễn vận hành doanh nghiệp tư nhân với cương vị một đảng viên, ông Nguyễn Quang Huân, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam, đã chỉ ra một trong những rủi ro lớn nhất là việc lợi dụng vị trí, quyền hạn, thông tin hoặc quan hệ công tác để tạo lợi thế kinh doanh không bình đẳng, tác động vào quá trình phân bổ nguồn lực công, thậm chí đứng tên hộ nhằm che giấu lợi ích thực tế.
Ông Nguyễn Quang Huân cho rằng, cần phân định rõ quyền tham gia kinh doanh theo từng vị trí, chức trách; minh bạch quyền sở hữu, lợi ích hưởng thụ thực tế và các quan hệ có nguy cơ xung đột lợi ích; đồng thời tăng cường kiểm tra độc lập, giám sát tài sản, thu nhập và xử lý nghiêm vi phạm.
Thiết lập "hàng lang" bảo vệ liêm chính
Từ "được phép làm" đến "khuyến khích làm" là bước chuyển từ xác định giới hạn sang chủ động tạo điều kiện phát triển. Trong bối cảnh nền kinh tế hướng đến tăng trưởng dựa vào năng suất, khoa học, công nghệ và chất lượng nhân lực, khả năng tạo ra của cải của mỗi người là một nguồn lực phát triển. Việc khuyến khích đảng viên tham gia kinh doanh cũng mở rộng cách thể hiện vai trò tiên phong trong đời sống kinh tế. Trách nhiệm ấy hiện diện ở việc dám đầu tư vào lĩnh vực mới, nâng cao năng suất, tạo việc làm và tổ chức sản xuất có trách nhiệm. Người có năng lực cần được phát huy sở trường, đồng thời chứng minh phẩm chất đảng viên bằng sự liêm chính, tuân thủ pháp luật và đóng góp thực chất.
Để các lý luận trên trở thành động lực phát triển bền vững, Tiến sĩ Hồ Sỹ Ngọc đề xuất cần hoàn thiện hạ tầng pháp lý và thể chế thông qua ba nhóm giải pháp cụ thể: Một là, minh bạch hóa dòng tiền và kiểm toán tài sản thông qua thiết lập hệ thống kiểm soát thu nhập, tài sản số hóa với cơ chế bắt buộc giải trình nguồn gốc tài sản đối với cán bộ, công chức, viên chức và người thân liên đới. Hai là xây dựng bộ tiêu chí nhận diện "xung đột lợi ích", trong đó quy định rõ ràng các "vùng cấm" đầu tư, kinh doanh đối với cán bộ, công chức, viên chức trong phạm vi ngành, lĩnh vực mình trực tiếp quản lý. Ba là, thực thi pháp luật nghiêm minh, áp dụng các chế tài kinh tế và hình sự đủ sức răn đe đối với hành vi thao túng chính sách, tuồn thông tin nội bộ để vụ lợi, bảo đảm kỷ cương công vụ và giữ vững bản chất cách mạng của Đảng.
GS.TS. Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME)
GS.TS. Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME) khẳng định môi trường kinh doanh lành mạnh phải được xây dựng trên cơ sở pháp luật, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động, chứ không dựa trên địa vị chính trị của chủ doanh nghiệp. "Một quy định mới chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi vừa tạo ra hành lang thuận lợi cho hoạt động đầu tư hợp pháp, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, sự minh bạch và công bằng trong tiếp cận các nguồn lực. Theo tôi, chúng ta cần hướng tới xây dựng đội ngũ đảng viên làm kinh tế không chỉ giỏi tạo ra của cải mà còn có trách nhiệm đối với người lao động, cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước", GS.TS. Mạc Quốc Anh nhấn mạnh.
Từ thực tiễn điều hành doanh nghiệp, ông Nguyễn Quang Huân cho rằng đảng viên là chủ doanh nghiệp không thể chỉ thực hiện trách nhiệm trong sinh hoạt Đảng, còn khi kinh doanh lại đặt lợi ích công ty lên trên hết. Những nguyên tắc về liêm chính, trách nhiệm xã hội cần được đưa vào chiến lược, văn hóa và hoạt động thường ngày của doanh nghiệp.
Cùng với đó, theo ông Nghuyễn Quang Huân, cần tạo ra cơ chế giám sát nhiều tầng. Kiểm soát nội bộ trong tổ chức đảng là cần thiết nhưng chưa đủ; phải kết hợp với kiểm soát tài sản, thu nhập, thanh tra công vụ, kiểm toán, quản lý thuế và các cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, cổ phần, quyền sở hữu hưởng lợi. Khi các dữ liệu này được liên thông, việc phát hiện quan hệ lợi ích bất thường sẽ không còn phụ thuộc chủ yếu vào kê khai tự giác.
Có thể khẳng định, từ "được phép làm" đến "khuyến khích làm" là bước chuyển từ xác định giới hạn sang chủ động tạo điều kiện phát triển. Giá trị của đổi mới tư duy phải được chứng minh bằng những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, việc làm bền vững và đời sống người lao động được cải thiện. Làm giàu chính đáng được khuyến khích cũng là để mỗi thành công cá nhân góp thêm nguồn lực cho sự phát triển đất nước trước những vận hội của kỷ nguyên mới.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.