Emagazine

40 năm Đổi mới: Hành trình tạo dựng cơ đồ và vị thế Việt Nam

Phạm Thanh Hương/Bnews/vnanet.vn 31/08/2026 09:10

Bốn thập kỷ kể từ Đại hội VI của Đảng năm 1986, kinh tế Việt Nam đã đi qua một hành trình đặc biệt: Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thiếu hụt hàng hóa và lạm phát rất cao, từng bước hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới. Những con số về quy mô GDP, thu nhập, thương mại, đầu tư và giảm nghèo qua từng năm cho thấy một sự chuyển đổi mang tính nền tảng.

cover-longform-chuan-bnews-6-.png

Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam là một trong những quyết sách có ý nghĩa chiến lược của Đảng được thông qua tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, đây là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gắn nhiệm vụ năm 2026 với mục tiêu cả nhiệm kỳ, đến năm 2030, năm 2045, đánh dấu bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam, từ mục tiêu tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển quốc gia, tạo nền tảng hiện thực hóa khát vọng đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bốn thập kỷ kể từ Đại hội VI của Đảng năm 1986, kinh tế Việt Nam đã đi qua một hành trình đặc biệt: Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thiếu hụt hàng hóa và lạm phát rất cao, từng bước hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập sâu rộng với thế giới. Những con số về quy mô GDP, thu nhập, thương mại, đầu tư và giảm nghèo qua từng năm cho thấy một sự chuyển đổi mang tính nền tảng. Phía sau những con số ấy là câu chuyện về những đổi mới về chính sách đã mở khóa nguồn lực xã hội, đưa Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

ban-sao-cua-gray-modern-tips-business-youtube-banner.png

Nhìn lại 40 năm Đổi mới, điều quan trọng nhất không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng GDP của từng năm, mà ở sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển và cách thức vận hành nền kinh tế. Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp. Những khó khăn về sản xuất, lưu thông, phân phối và mất cân đối vĩ mô ngày càng bộc lộ. Việt Nam khi đó đứng trước yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ cách thức tổ chức và quản lý nền kinh tế.

Đại hội VI tháng 12/1986 vì thế trở thành một dấu mốc có tính lịch sử. Đường lối Đổi mới toàn diện được xác lập; trong đó đổi mới tư duy kinh tế giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nhà nước từng bước chuyển từ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp sang phát huy các thành phần kinh tế, sử dụng các quan hệ thị trường và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.

Nhưng Đổi mới không phải là một quyết định đơn lẻ. Đó là một quá trình liên tục điều chỉnh chính sách, từng bước tháo gỡ những “nút thắt” của nền kinh tế. Từ những thử nghiệm trong nông nghiệp, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (gọi là “Khoán 10”) đề cập toàn diện các khâu sở hữu, tổ chức quản lý và sản xuất phân phối - lưu thông trong sản xuất nông nghiệp. Đó là những điểm “đổi mới”, “đột phá” một cách toàn diện và triệt để so với các chính sách về khoán trong những năm 1980, 1981 và Chỉ thị 100 trước đó. Minh chứng rõ ràng nhất, ngay năm 1988, nước ta đã chấm dứt thời kỳ thiếu gạo. Một năm sau - 1989, Việt Nam chuyển sang thời kỳ xuất khẩu gạo. Đến nay, hạt gạo của Việt Nam đã có mặt ở 156 quốc gia, vùng lãnh thổ và trở thành 1 trong 3 cường quốc xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới. Trong công nghiệp và đầu tư, việc trao quyền tự chủ hơn cho doanh nghiệp nhà nước, xóa dần bao cấp và đặc biệt là Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã mở những cánh cửa đầu tiên để dòng vốn quốc tế tham gia vào nền kinh tế Việt Nam.

Nếu Đổi mới năm 1986 là sự thay đổi về tư duy, thì những chính sách sau đó là quá trình biến tư duy ấy thành luật, thể chế và động lực sản xuất cụ thể để đưa đến một trong những thành tựu nổi bật nhất của 40 năm Đổi mới là sự thay đổi về độ mở của nền kinh tế. Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN; năm 1998 tham gia APEC; năm 2000 ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và ngày 11/1/2007 chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO… Mỗi dấu mốc đều đồng thời là một lần Việt Nam phải điều chỉnh hệ thống chính sách, luật pháp và chuẩn mực kinh doanh để tương thích sâu hơn với kinh tế quốc tế. Đặc biệt, khi gia nhập WTO, Việt Nam không đơn thuần là mở thêm thị trường xuất khẩu. Đó còn là sức ép cải cách từ bên ngoài đối với chính nền kinh tế bên trong khi Việt Nam phải tiếp tục cải cách chính sách thương mại, đầu tư, cạnh tranh, minh bạch hóa môi trường kinh doanh và từng bước nâng cao tính tương thích của thể chế kinh tế với các chuẩn mực quốc tế.

Sau WTO, quá trình hội nhập tiếp tục được đẩy mạnh bằng thế hệ các hiệp định thương mại tự do mới; trong đó có Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). CPTPP có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 14/1/2019. Chỉ trong hai năm 2019-2020, thương mại giữa Việt Nam với 10 nước CPTPP đạt lần lượt 77,4 tỷ USD và 78,2 tỷ USD. Đến năm 2025, độ mở ấy đã tạo ra một bức tranh hoàn toàn khác. Theo Cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm 2025 đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024. Xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, đưa cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD. Đây là một con số có ý nghĩa đặc biệt nếu đặt cạnh xuất phát điểm của nền kinh tế cách đây bốn thập kỷ. Đặc biệt, Việt Nam không còn chỉ xuất khẩu những sản phẩm dựa chủ yếu vào lợi thế tài nguyên và lao động giá rẻ mà nền kinh tế đã từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất công nghiệp và công nghệ toàn cầu.

Một bước ngoặt khác của 40 năm Đổi mới đó là trao quyền cho khu vực tư nhân. Nếu hội nhập để tạo ra thị trường thúc đẩy động lực tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, thì sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân là một trong những trụ cột quan trọng nhất của tiến trình Đổi mới mà dấu mốc đáng chú ý là Luật Doanh nghiệp năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999. Tinh thần quan trọng của bước ngoặt này là chuyển mạnh hơn từ tư duy “doanh nghiệp được làm những gì Nhà nước cho phép” sang tư duy “doanh nghiệp được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm”. Đây được đánh giá là một bước thay đổi quan trọng trong cách nhìn nhận và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân.
Cùng với đó là quá trình sắp xếp, đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; cải cách thủ tục hành chính; mở rộng quyền tự chủ kinh doanh; từng bước hình thành môi trường cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế. Đây chính là quá trình giải phóng nguồn lực trong xã hội khi ngày càng nhiều chủ thể được tham gia thị trường, được quyền đầu tư, sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh.

Đến nay, phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân được xác định là 2 trụ cột ngày càng quan trọng trong quá trình đổi mới mà Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước được ví như “đôi cánh” để nền kinh tế Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới.

ban-sao-cua-gray-modern-tips-business-youtube-banner-1-.png

Nếu cần tìm một chỉ dấu cô đọng nhất cho thành quả kinh tế của 40 năm Đổi mới, đó chính là quy mô nền kinh tế. Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV nêu rõ, trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt.

Trong khoảng 10 năm sau thống nhất đất nước (1975-1985), thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ dao động từ 125 đến 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, tỉ lệ lạm phát thời điểm tháng 12/1986 lên đến 774,7%. 10 năm đầu đổi mới (1986-1995) trong điều kiện bị bao vây, cấm vận, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, nền kinh tế đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái; đạt mức tăng trưởng khá cao, liên tục và tương đối toàn diện. Trong 10 năm tiếp theo (1996-2005), thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên. Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP. Trong 10 năm (2006-2015), đất nước ta đã chính thức trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, chính trị-xã hội ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm; trong đó có 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9%. Trong giai đoạn 1991-2016, giá trị xuất khẩu tăng gấp 60,38 lần, nhập khẩu tăng 80,41 lần.

Đặc biệt, trong 10 năm gần đây (2016-2025), nền kinh tế đất nước đã có sự chuyển biến tích cực, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi nhiều biến động không thuận từ địa chính trị, môi trường quốc tế, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2025 đạt khoảng 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, đạt tương ứng trên 510 tỷ USD và trên 5.000 USD/người. Đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện.

Tỷ lệ nghèo của Việt Nam theo chuẩn nghèo quốc tế 3,20 USD/ngày theo sức mua tương đương năm 2011 đã giảm từ 16,8% xuống 5% trong một thập niên, với hơn 10 triệu người thoát nghèo.

Theo Ngân hàng Thế giới

Từ một nền kinh tế đóng cửa khép kín, Việt Nam trở thành một nền kinh tế có mức độ hội nhập toàn cầu khi trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Việt Nam hiện thuộc TOP 20 nước về thu hút đầu tư nước ngoài và TOP 20 về kim ngạch xuất nhập khẩu trên thế giới. Với độ mở nền kinh tế cao, đạt gần 200% so với quy mô GDP, Việt Nam là nền kinh tế năng động trong ASEAN. Đáng chú ý hơn, Đổi mới không chỉ tạo ra của cải, mà còn làm thay đổi đời sống người dân. Đây là một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam được các tổ chức quốc tế ghi nhận.

Theo Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nghèo của Việt Nam theo chuẩn nghèo quốc tế 3,20 USD/ngày theo sức mua tương đương năm 2011 đã giảm từ 16,8% xuống 5% trong một thập niên, với hơn 10 triệu người thoát nghèo. Những con số ấy cho thấy thành quả của Đổi mới không chỉ được đo bằng những nhà máy, khu công nghiệp hay kim ngạch xuất khẩu, mà còn được đo bằng khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và đưa hàng chục triệu người ra khỏi tình trạng nghèo đói.

Một thành quả khác phản ánh sức hấp dẫn ngày càng lớn của môi trường kinh doanh Việt Nam là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 là một trong những văn bản pháp lý đầu tiên tạo khuôn khổ cho dòng vốn quốc tế tham gia thị trường Việt Nam. Từ chỗ gần như chưa có khu vực đầu tư nước ngoài (FDI), sau gần 40 năm, Việt Nam đã hình thành một khu vực sản xuất hướng mạnh vào xuất khẩu và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Năm 2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước; vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9%. Những con số này cho thấy Việt Nam đã trở thành một địa điểm sản xuất và đầu tư có vị trí đáng kể trong chiến lược của nhiều tập đoàn quốc tế.

ban-sao-cua-gray-modern-tips-business-youtube-banner-2-.png

Bốn mươi năm trước, Đổi mới bắt đầu từ một yêu cầu có tính sống còn: giải phóng sức sản xuất, tháo gỡ những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và thiếu hụt. Sau bốn thập kỷ, Việt Nam đã đứng ở một vị thế hoàn toàn khác. Quy mô nền kinh tế đã vượt mốc 500 tỷ USD; GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD; kim ngạch xuất nhập khẩu tiến sát 1.000 tỷ USD; Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở cao và là một mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất, thương mại toàn cầu. Những thành quả ấy tạo ra một tiền đề mà Việt Nam chưa từng có trước đây, đồng thời cũng chuyển trạng thái đất nước sang một giai đoạn mới - kỷ nguyên mới với yêu cầu vươn lên ở một nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Vì thế, nếu Đổi mới giai đoạn đầu là để “thoát nghèo”, thì yêu cầu của giai đoạn mới phải là Đổi mới để phát triển giàu mạnh. Đây không chỉ là sự thay đổi về mục tiêu, mà trước hết là sự thay đổi về mô hình tăng trưởng. Trong nhiều năm, tăng trưởng của Việt Nam dựa khá lớn vào việc mở rộng các yếu tố đầu vào: vốn đầu tư, lao động, đất đai, tài nguyên và khai thác lợi thế chi phí. Mô hình đó đã đóng góp quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Nhưng khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, lực lượng lao động thay đổi, chi phí đầu vào tăng lên và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, những động lực cũ không còn đủ sức tạo ra tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn. Bài toán của Việt Nam vì thế không còn đơn giản là “tăng trưởng bao nhiêu”, mà phải là “tăng trưởng bằng cách nào và tạo ra giá trị gì”.

Đây chính là lý do chuyển đổi mô hình tăng trưởng trở thành yêu cầu trung tâm của giai đoạn phát triển mới. Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của đất nước khi xác định rõ: Xác lập mô hình tăng trưởng mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV tiếp tục phát triển và cụ thể hóa tư duy đó khi thông qua Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Đây là một quyết tâm có ý nghĩa chiến lược của Đảng. Đổi mới mô hình phát triển không đơn thuần là bổ sung một số ngành kinh tế mới vào cơ cấu hiện có, càng không phải thay thế cơ học những động lực tăng trưởng truyền thống. Nội hàm sâu xa của quá trình này là đổi mới phương thức huy động, phân bổ, sử dụng và chuyển hóa các nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, Nghị quyết còn xác lập mô hình phát triển mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Nói cách khác, Việt Nam cần chuyển từ lợi thế “chi phí thấp” sang nâng cao năng suất, từ “lắp ráp” sang “sáng tạo”, từ tham gia chuỗi giá trị ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang từng bước làm chủ những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

quote-ngang-1920-x-1080-px-.png

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm một lần nữa khẳng định: Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động; để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.

Trong bối cảnh đó, mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức hai con số trong những năm tới mang một ý nghĩa khác với việc đơn thuần chạy theo một tỷ lệ tăng trưởng cao. Đây là yêu cầu nhằm tạo ra một mặt bằng phát triển mới, giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nền kinh tế phát triển, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Và đây cũng là sự tiếp nối logic của Đổi mới trong chặng đường từ “Đổi mới để thoát nghèo” đến “Đổi mới để phát triển giàu mạnh” - chặng đường mới, vận hội mới của đất nước trong kỷ nguyên mới.

(0) Bình luận
40 năm Đổi mới: Hành trình tạo dựng cơ đồ và vị thế Việt Nam
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO